Tìm kiếm

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Lý do không nên so sánh con mình với trẻ khác


Dù đó là anh chị em của bé hay con của người bạn, việc so sánh sẽ khiến bé thấy bị tổn thương lòng tự trọng và cảm thấy mình thật kém cỏi.
 1. Ảnh hưởng đến lòng tự trọng của con
Một trong những lý do bạn không nên so sánh con mình với những người khác là sẽ chạm vào lòng tự trọng của bé. Bạn sẽ cảm thấy như thế nào khi liên tục bị so sánh với người khác? Lòng tự ti ở trẻ xuất phát từ thời thơ ấu, vì vậy, đừng làm cho trẻ cảm thấy chúng đang thua kém người khác. Bạn không muốn làm trẻ tự cao và kiêu ngạo, nhưng cũng đừng làm trẻ cảm thấy vô dụng và vô giá trị.

2. Mọi đứa trẻ đều khác nhau
Mỗi đứa trẻ là một cá nhân, có tài năng và sở thích riêng. Điều này dễ dàng lý giải khi một đứa trẻ có năng khiếu âm nhạc, còn đứa khác thì không. Đứa trẻ không có năng khiếu âm nhạc có thể giỏi thể thao hoặc ham đọc sách. Chẳng có đứa trẻ nào tốt hơn đứa trẻ khác một cách toàn diện. Hãy để trẻ phát triển sở thích và khả năng của mình. Hãy để trẻ cảm thấy rằng chúng không cần phải giống với người anh chị em, hoặc con của một người bạn của cha mẹ chúng.
3. Trẻ sẽ oán giận
So sánh trực tiếp có thể làm cho một đứa trẻ cảm thấy rất bực bội. Khi trẻ bị so sánh và cảm thấy không bằng anh chị em ở một điểm nào đó, trẻ không những oán giận bạn, mà còn oán giận cả anh chị em của mình. Bạn có muốn gia tăng sự đối nghịch giữa những đứa con của mình? Vì vậy, đừng so sánh. Ngay cả khi bạn nghĩ rằng trẻ sẽ không nhận ra, ai đó vẫn có thể nói cho chúng biết.
4. Trẻ sẽ ghi nhớ mãi
Bạn có thể ngạc nhiên vì trẻ sẽ nhớ mãi những ký ức khi bị so sánh từ thời thơ ấu. Một thời gian sau bạn sẽ quên rằng mình từng nói: “Tại sao con không giỏi như anh”, nhưng con bạn sẽ nhớ mãi rằng nó không giỏi như bạn mong đợi. Bạn sẽ sớm quên đi, nhưng con bạn không như vậy. Trẻ sẽ nhớ mãi.
5. Trẻ sẽ tự thấy mình kém cỏi
Việc so sánh con với những người khác có nguy cơ khiến trẻ tự thấy mình kém cỏi. Theo thời gian, con bạn sẽ nghĩ rằng nó thật sự kém cỏi và sẽ tin vào điều đó. Trẻ sẽ nghĩ rằng tại sao phải cố gắng khi mình sẽ không thành công? Và trẻ sẽ luôn tin rằng mình kém cỏi và thất bại.
6. Mỗi đứa trẻ có một nhịp độ phát triển riêng
Thời thơ ấu không phải là một cuộc chạy đua đến đỉnh cao và trẻ em phát triển theo tốc độ riêng của chúng. Tuy nhiên, cha mẹ thường lo lắng vì con của họ không thể đi như những trẻ cùng độ tuổi, hoặc có vốn từ vựng thấp hơn nhiều. Không có thời gian biểu cho sự phát triển của một đứa trẻ, vì vậy đừng lo lắng khi con bạn không được bằng con của những người khác. Chúng sẽ phát triển theo nhịp độ riêng của mình.
7. Làm cho trẻ trở nên kiêu căng

Ngược lại, việc so sánh một cách quá tích cực về con mình đối với những người khác cũng làm con bạn trở nên kiêu căng, tự phụ. Bạn có muốn con mình lớn lên và luôn nghĩ rằng chúng là siêu sao không? Khen ngợi là tốt, nhưng đừng khen ngợi đến mức khiến trẻ nghĩ rằng, chúng giỏi hơn người khác rất nhiều.

Muối cứu nguy cho mẹ bụng phệ


Nhờ chăm chỉ đắp muối gừng mà bụng em rất nhanh thon gọn sau sinh nở các mẹ nhé.
Em thấy các mẹ hiện đại ngày nay thường rất “ngại” sống với mẹ chồng và thường chê các bà cổ hủ nhưng với riêng em, em lại khá hợp mẹ chồng và phải cảm ơn mẹ nhiều lắm về những kinh nghiệm được cho là “cổ hủ” của bà.
Em lấy chồng là con trai một trong gia đình nên ngay từ đầu đã xác định sẽ phải sống cùng gia đình chồng cả đời. Bố mẹ chồng em cũng đã ngoài 60 nên chỉ thích sống cùng con cháu cho vui cửa nhà. Ngày em chưa sinh con, vì đã nghỉ hưu nên bố mẹ em thường đón cháu ngoại sang chăm sóc nhưng đến ngày em bầu bí thì mẹ chồng “toàn tâm toàn sức” chăm sóc em và đứa cháu đích tôn trong bụng. Nhờ có mẹ chồng mà cả thai kỳ em khỏe re, chẳng mấy khi phải động đến cái bát, cái đũa hay đi chợ, nấu cơm. Không chỉ có thế, vì cũng là người có kiến thức nên mẹ chồng dạy em nhiều kinh nghiệm trong khi mang bầu và đặc biệt là sau sinh nở rất hay.

Là người thuộc thế hệ trước nhưng mẹ chồng em không quá cổ hủ. Sau khi em sinh Sóc, mẹ chồng không bắt em phải kiêng khem quá nhiều như các bà mẹ chồng khác. Đẻ xong 5 ngày, mẹ chồng cho phép em được tắm gội bằng nước ấm và cũng không bắt ăn uống kiêng khem mà ưu tiên những thực phẩm nhiều chất. Tuy nhiên, mẹ lại rất chú trọng đến việc đắp muối gừng để giúp em ấm bụng sau ca sinh thường. Mẹ bảo cách này mẹ học được của các bà ngày xưa, qua mấy lần sinh đều làm theo và thấy rất tốt cho sức khỏe lại có công dụng giảm bụng “phệ” nữa.
Khi mang thai Sóc em tăng tất 23kg nên sinh xong rồi mà bụng em vẫn còn cả “rổ” mỡ. Nghe mẹ chồng nói thế em mừng lắm bởi nói thật cộng việc của em rất quan trọng vóc dáng. Em đã từng có ý định sinh xong sẽ đi hút mỡ bụng cơ mà. Nhờ có mẹ chồng giúp nên chỉ 3 ngày sau sin hem đã rất chăm chỉ đắp muối gừng để giúp ấm bụng và giảm eo. Cách làm của em như sau:
Cần chuẩn chuẩn bị: 1 kg gừng tươi, làm sạch, băm nhỏ; 1 bát muối nhỏ (muối hạt, muối tinh).
Cách thực hiện: Em thấy mẹ chồng thường rang muối với gừng đã được băm nhỏ để nóng lên sau đó bọc lại bằng khăn bông dày, mềm rồi chườm nhẹ nhàng quanh vùng bụng của em. Mỗi lần chườm khoảng 15-20 phút và chườm 1-2 lần/ngày.
Mẹ chồng em bảo muối rang gừng có tác dụng tăng cường tuần hoàn máu, giúp các mạch máu hoạt động liên tục khiến phần bụng nhỏ đi. Ngoài ra, muối gừng còn giúp ấm vùng bụng sau ca sinh nở.
Không chỉ có cách làm này, trong những lần ngồi chườm muối gừng trên bụng cho em, mẹ chồng còn kể có rất nhiều cách để giảm mỡ bụng với muối nữa. Em xin  liệt kê ra đây để các mẹ tham khảo nhé!
Cách giảm mỡ bụng bằng muối rang
Theo mẹ chồng em thì muối rang giúp làm tan mỡ bụng nhanh chóng, cách giảm mỡ bụng này rất đơn giản mà mẹ nào cũng có thể áp dụng thường xuyên mỗi ngày. Để giảm mỡ bụng bằng muối rang các mẹ chỉ cần chuẩn bị 1 bát muối nhỏ, đem rang thật nóng rồi bọc vào vải bông (nên chọn chất vải thoáng khí nhưng đủ dày để tránh da bị tổn thương do nhiệt nóng). Chườm túi muối rang lên bụng cho đến khi sức nóng giảm dần, túi chườm nguội đi.
Áp dụng cách giảm mỡ bụng bằng muối rang này khoảng 1 tháng mẹ sẽ thấy ít nhiều chuyển biến.
Cách giảm mỡ bụng bằng muối rang ngải cứu
Giảm mỡ bụng bằng muối rang ngải cứu là cách giảm mỡ bụng đơn giản, chi phí thấp mà mẹ nên thử áp dụng một lần. Ngải cứu và muối là hai bài thuốc giảm eo dân gian được nhiều người áp dụng. Để giảm mỡ bằng muối rang ngải cứu mẹ cần: 1 bát 1 hạt nhỏ, 1 kg ngải cứu.
Cách thực hiện rất đơn giản: ngải cứu làm sạch, để khô, rang trên bếp cho đến khi có màu sẫm. Kế tiếp mẹ đổ muối hạt vào chảo và đảo cùng ngải cứu thêm 1 vài phút cho đến khi hỗn hợp có màu vàng đen.
Đổ hỗn hợp này vào một chiếc khăn dày (để tránh làm bỏng da) rồi bọc lại. Tiếp theo, chườm nhẹ bọc muối rang lên bụng, chườm đều và nhẹ nhàng. Hơi nóng từ muối rang ngải cứu sẽ đánh tan mỡ thừa vùng bụng. Ngoài việc kết hợp cùng muối, ngải cứu cũng có thể giúp mẹ giảm cân khi chế biến thành món ăn. Mẹ chồng mình thường chế biến các món với ngải cứu như trứng rán ngải cứu, trứng vịt lộn tần ngải cứu… cho mình ăn suốt mấy tháng ở cữ. Ngải cứu có chứa những thành phần có khả năng phân giải chất béo rất tốt, làm giảm cholesterol trong máu.

Đúng là nhờ mẹ chồng mà mình không chỉ có sức khỏe tốt còn đẹp nhiều hơn sau sinh nữa. Bây giờ, tuy mới sinh con được 3 tháng nhưng vòng eo của mình đã về được mức ban đầu và vô tư diện bikini khi đi biển các mẹ nhé!

Giảm mỡ bụng siêu tốc nhờ muối


Giảm cân là nhu cầu của rất nhiều chị em phụ nữ, đặc biệt là giảm mỡ bụng, nhất là các mẹ sau khi sinh, vòng hai không còn thon gọn như trước. Hãy áp dụng cách đơn giản nhất để giảm mỡ bụng với muối.

Chườm muối hột để giảm mỡ vùng bụng

Phương pháp chườm muối để giảm mỡ bụng bắt nguồn từ người Huế xưa. Theo Đông Y, chườm muối có tác dụng giảm đau lưng, đau do tổn thương dây thần kinh, giảm mỡ bụng, làm săn chắc cơ bụng…
Thông thường, bạn có thể áp dụng cách chườm muối rang nóng. Hơi nóng từ muối rang có tác dụng rất hiệu quả đối với việc giảm mỡ bụng, giúp vòng bụng thêm săn chắc, gọn gàng. Để đạt hiệu quả cao hơn, bạn có thể kết hợp muối rang với gừng hoặc ngải cứu cũng rất tốt cho sức khỏe.
Cách thực hiện: Rang nóng khoảng 1 kg muối, sau đó cho vào túi vải hoặc khăn bông và chườm lên bụng khi muối còn nóng. Trong quá trình chườm túi muối,  bạn có thể kết hợp với các động tác massage để việc chườm muối có hiệu quả hơn, đồng thời giúp cơ thể cân bằng hơn.
Massge bụng bằng muối
Massge bụng bằng muối hột sẽ giúp cơ thể đào thải, loại bỏ các chất độc tố và lượng nước dư thừa trong cơ thể, thúc đẩy sự sinh trưởng làn da mới, làm mếm chất cáu bẩn đồng thời bổ sung muối và chất khoáng làm cho da trở nên mịn màng đẹp hơn và cũng là cách giảm béo hiệu quả.

Trước khi tắm lấy 1 li muối hột pha với một ít nước nóng thành dạng sệt, đắp lên bụng rồi xoa bóp, massge vùng bụng, sau 10 phút dùng nước ấm rửa sạch. Sau khi tắm xong lấy thêm một muỗng lớn muối cho vào lòng bàn tay, xoa chà nhẹ nhàng vùng bụng cho đến khi thấy nóng. Lưu ý đừng chà quá mạnh, nếu da bạn quá nhạy cảm thì dùng muối thật mịn.

7 cách giải độc, thanh lọc cơ thể an toàn


Dưới đây là một số cách để giải độc cơ thể một cách tự nhiên mà không ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe.
Khóc. Đối với phụ nữ, đặc biệt là những người hay khóc, tác dụng thải độc bằng cách khóc được phát huy một cách rất tinh tế. Các chuyên gia y học đã chứng minh, nước mắt chứa một lượng lớn chất có hại gây bất lợi cho sức khỏe. Những người ít khóc có thể xem những bộ phim truyền hình cảm động hoặc thái hành tây để cho tuyến lệ vận động ít nhất mỗi tháng một lần.
Ăn cà rốt. Cà rốt chứa nhiều chất carotine nên có thể thải loại độc tố. Cà rốt càng tươi thì khả năng khử độc càng mạnh. Bạn có thể dùng nước ép cà rốt trộn với mật ong để làm tăng hương vị và khả năng giải độc.
Ăn tỏi. Trong thành phần của tỏi có chứa chất allicin, một dạng của sulfur có tác dụng thanh lọc, thải độc cho gan nhanh chóng. Những dưỡng chất kỳ diệu của tỏi có thể giúp lá gan thanh lọc cả những kim loại nặng như thủy ngân và chì, thường có nhiều trong những loại phụ gia thực phẩm.

Xông hơi. Khi cơ thể tiết mồ hôi, các độc tố cũng theo đó bị đẩy ra ngoài, do đó việc tiết mồ hôi là một trong những cách thải độc tố hiệu quả nhất. Từ lâu, việc xông hơi để đào thải độc tố đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới và đem lại nhiều kết quả đáng kinh ngạc.
Thực hành thủy liệu pháp bằng cách tắm nước rất nóng dưới vòi sen 5 phút, để nước chảy trên lưng. Tiếp theo là xả nước lạnh trong 30 giây. Lặp lại điều này 3 lần, và nghỉ trên giường trong 30 phút.
Nước uống gừng, chanh. Gừng, chanh cả hai đều tốt cho giải độc. Nước chanh có khả năng kích thích, tăng cường hoạt động của thận nên sẽ giúp cơ thể loại bỏ các chất không có ích thông qua nước tiểu. Chúng còn có khả năng thanh lọc gan và giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt. Gừng cũng có tác dụng giải độc tương tự. Một ly nước chanh hàng ngày với một chút gừng nó sẽ giúp loại bỏ độc tố khỏi cơ thể và làm sạch hệ thống hoàn toàn

Tập thể dục thường xuyên. Tập thể dục đóng một vai trò quan trọng trong đào thải độc tố. Tập thể dục thường xuyên kích thích tuần hoàn máu và sự hoạt động của hệ bạch huyết, kích thích khả năng tiêu hoá, giảm căng thẳng, bôi trơn các khớp xương và giúp cơ thể khoẻ mạnh hơn. Ngoài ra, tập thể dục thường xuyên sẽ làm cho bạn đổ mồ hôi, giúp các độc tố theo mồ hôi thoát ra khỏi cơ thể.

7 bí quyết giúp sống lâu của người Nhật


Hãy cùng tìm hiểu một vài công thức sử dụng thực phẩm điển hình của người Nhật để có được sức sống trường tồn tương tự.
Các chuyên gia đã tìm ra nguyên nhân cho sức khỏe trường thọ của người Nhật có được là nhờ chế độ ăn uống lành mạnh. Sushi là món ăn khỏe mạnh nổi tiếng của Nhật Bản, nhưng ẩm thực lành mạnh của đất nước mặt trời mọc không chỉ đơn giản là như vậy.
Bữa ăn điển hình gồm cơm, canh và 3 món phụ
Một bữa ăn điển hình của người Nhật sẽ bao gồm một chén cơm, một bát canh súp và ba món phụ. Trong ba món phụ, có một món được cho là chất lượng hơn hai món còn lại, thường được làm từ cá, cá tươi có thể làm sashimi hoặc cá nướng Yakizakana. Hai món phụ còn lại là những món rau như dưa chua Tukemono, rau luộc với nước tương Nimono,có thể có thêm trà xanh.
Rong biển, mận chua khô umeboshi, đậu phụ lên men Natto cũng là thực phẩm phổ biến trong bữa ăn của người Nhật. Natto tuy có vị rất nồng nhưng đã được chứng minh có tác dụng hiệu quả trong việc ngăn chặn béo phì, lão hóa và một số loại ung thư.
Bổ sung cá vào thực đơn hàng ngày
Người Nhật đặc biệt ưa chuộng các món cá. Người Nhật tiêu thụ gần 10% thực phẩm cá của thế giới, mặc dù dân số của họ chỉ chiếm 2%, cụ thể hóa thì mỗi người dân Nhật ăn cá gấp 5 lần so với người dân khác trên thế giới.

Dùng cơm thay cho các sản phẩm từ bột mì
Giống như hầu hết các nước phương Đông khác, người Nhật sử dụng cơm từ lúa gạo làm món chính trong các bữa ăn hàng ngày. Khẩu phần ăn nhiều lúa gạo khiến người Nhật có vóc dáng cân đối, tránh các chứng bệnh béo phì liên quan tới bột mì tinh chế như ở nhiều nước phương Tây.
Coi trọng bữa sáng, ăn ít vào các bữa còn lại
Người Nhật coi bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày nên công thức điển hình luôn được thực hiện chuẩn nhất vào bữa sáng. Trong các bữa còn lại trong ngày, người Nhật thường dùng các loại mì.
Một món ăn không thể thiếu khác trong văn hóa Nhật là mì. Người Nhật rất thích ăn các loại mì. Đây được coi là thức ăn nhanh vì chúng có giá thành tương đối rẻ. Người nước ngoài thường rất ngạc nhiên khi chứng kiến cảnh người Nhật ăn mì bởi họ tạo ra rất nhiều tiếng ồn. Đó là kiểu ăn truyền thống của người Nhật để cho biết họ đang được thưởng thức một món ăn ngon và họ hạnh phúc về điều đó.
Chia bữa chính thành nhiều bữa phụ
Khẩu phần ăn của người Nhật nhỏ và ăn thành nhiều bữa. Việc trình bày các món ăn cũng tuân theo nguyên tắc không bao giờ bày đầy ắp, tất cả chỉ dừng ở mức độ vừa đủ, nhấn mạnh vào phần trang trí làm nổi bật độ tươi ngon của món ăn.
Sử dụng nguồn nguyên liệu tươi
Người Nhật sử dụng gần như hoàn toàn các nguyên liệu tươi trong chế biến món ăn, phương thức chế biến cũng thường sử dụng những phương pháp đơn giản như hấp, áp chảo, hầm, nướng để giữ nguyên vị tươi ngon cùng các chất dinh dưỡng đồng thời hạn chế chất béo hấp thu vào cơ thể.
Tận dụng tối đa nguồn thực phẩm theo mùa vụ
Người Nhật cũng rất chú trọng sử dụng các thực phẩm đúng mùa vụ bởi chỉ lúc đúng mùa, thực phẩm mới rẻ, tươi ngon và giữ được hương vị hoàn hảo nhất.

Bí quyết để sống lâu không quá mức cầu kì như bạn nghĩ. Sau bài viết này, bạn có thể tự tin nối dài tuổi thọ cho chính bản thân mình và gia đình mình bằng các bữa ăn khỏe mạnh như người Nhật.

Tác hại không ngờ khi trẻ ăn quá nhiều đồ ngọt


Ngoài việc gây ra sâu răng, béo phì...ăn nhiều đồ ngọt còn gây ra tình trạng dị ứng, giảm sức đề kháng ở trẻ nhỏ.
Dễ bị dị ứng. Có một điều rất dễ nhận thấy, đó chính là những trẻ em ăn nhiều đồ ngọt lại thường bị dị ứng. Các nghiên cứu mới của trường Đại học tại Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng đồ ngọt có thể ảnh hưởng đến chức năng của bạch cầu và thay đổi thành mạch máu dẫn đến sự giảm sức đề kháng, dễ bị viêm, dị ứng và gặp các vấn đề về da.
Dễ bị cận thị. Sự tăng lên của lượng đường trong máu sẽ giảm áp lực thẩm thấu các chất dịch của cơ thể, giảm tầm nhìn, dẫn đến cận thị. Ngoài ra, ăn nhiều đồ ngọt còn giảm sự hấp thụ canxi và tính đàn hồi, độ dẻo dai của xương.

Tâm trạng xấu. Khi bé ăn quá nhiều đường, bé nhà bạn sẽ tạo nên mức năng lượng cao. Tuy nhiên mức năng lượng này chỉ tăng tạm thời và sau đó sẽ bị sụt giảm ngay sau đó. Khi quá trình này xảy ra, cơ thể bé lại bắt đầu giải phóng hormone để mang lại mức độ đường trong máu. Điều này sẽ gây nên các kích thích tố nguy hiểm như các hormone adrenaline, cortisol và epinephrine.
Gây ra các bệnh về răng lợi, từ đó có thể dẫn đến bệnh tim. Việc nhiễm trùng lặp đi lặp lại như nhiễm trùng lợi là một trong những tác phẩm thúc đẩy sự phát triển bệnh liên quan đến động mạch vành.
Tích lũy chất độc trong cơ thể. Sau khi đường được hấp thụ bởi cơ thể con người, nó sẽ bị phân hủy và sản xuất năng lượng trong cơ thể. Để chuyển hóa hết lượng đường đưa vào cơ thể cần tiêu hao một lượng vitamin B rất lớn. Ăn quá nhiều đường trong thời gian dài sẽ làm cho cơ thể thiếu vitamin B vì tiêu thụ quá mức, dẫn đến độc tố tích lũy trong cơ thể con người.
Đồ ngọt gây loãng cương. Bác sĩ chuyên khoa cho rằng, khi bỗng dưng thèm đồ ngọt, có nghĩa là bạn đang có nguy cơ bị loãng xương. Vì trong quá trình chuyển hóa và phân giải đường, ngoài vitamin B1, cơ thể còn tăng nhu cầu về các khoáng chất thiết yếu như: kẽm, magie, natri… trong đó nhiều nhất là nhu cầu về canxi. Do vậy, nếu ăn quá nhiều đồ ăn có chứa đường, phụ nữ sẽ rất dễ bị các vấn đề về xương, đặc biệt là bệnh loãng xương.

Giảm sức đề kháng. Ăn nhiều đồ ngọt nghĩa là trẻ đã hấp thu một lượng đường mới vào trong người. Đường chính là thủ phạm làm giảm khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng thiết yếu khác. Khi cơ thể thiếu chất các chất thiết yếu này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chức năng miễn dịch của cơ thể, đến chức năng của bạch cầu và thay đổi thành mạch máu dẫn đến sự giảm sức đề kháng.

Cách chăm sóc và phòng bệnh viêm phổi cho trẻ


Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ cộng với sức đề kháng kém, trẻ em rất rất dễ mắc các bệnh, đặc biệt là viêm phổi. Dưới đây là cách chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ mà các cha mẹ nên lưu ý.
- Vào mùa nắng nóng, cơ thể thường bài tiết nhiều mồ hôi hơn, cơ thể có nguy cơ thiếu nước và các chất điện giải. Việc bổ sung đủ nước cho trẻ đồng thời cho ăn các loại rau củ quả, trái cây là rất cần thiết vừa bồi phụ nước, cung cấp thêm dinh dưỡng và vi chất.
- Để hạn chế trẻ mắc bệnh trong mùa hè, nhất là bệnh viêm phổi, trước hết trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ, hạn chế cho trẻ dùng nước đá, hoa quả lạnh trong tủ lạnh. Khi sử dụng máy điều hòa nên điều chỉnh nhiệt độ hợp lý không quá chênh lệch với nhiệt độ thời tiết bên ngoài. Không nên để gió của máy điều hoà quạt thẳng vào người trẻ.

- Sự chênh lệch nhiệt độ giữa phòng lạnh và ngoài trời quá lớn khiến trẻ em khó thích nghi, hơn nữa, việc ngồi trong phòng điều hòa quá lâu khiến da trẻ bị khô, khô họng khiến trẻ dễ bị viêm đường hô hấp trên. Hơn nữa, trẻ dễ bị các loại vi sinh vật tấn công, nhất là các loại vi khuẩn gây viêm đường hô hấp như H. influenzae, phế cầu, liên cầu… Nếu không được chăm sóc tốt cũng có thể làm trẻ bị viêm phổi.
- Mặc dù là mùa nắng nóng nhưng khi tắm cho trẻ, nhất là trẻ dưới 5 tuổi nên dùng nước ấm là tốt nhất và không nên cho tắm nước lạnh.
- Trong các trường hợp nhẹ, mới chớm bệnh, các mẹ có thể nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn cho trẻ, cho trẻ súc miệng bằng dung dịch súc họng hoặc nước muối loãng ấm hằng ngày. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất.

- Nếu thấy các triệu chứng viêm phổi nặng hơn, trẻ cần được nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế để thăm khám và điều trị. Không nên tự cho trẻ uống thuốc, đặc biệt là các loại thuốc giảm ho, kháng sinh.

Thuốc chữa bệnh từ cây sa nhân


Sa nhân là loại cây mọc hoang rất nhiều ở vùng rừng núi, dưới tán cây râm mát, tiếng Tày còn gọi là mác nẻng, tiếng Thái là co nénh. Bộ phận dùng làm thuốc là hạt quả. Thu hái quả thường vào mùa hè, bóc vỏ quả lấy hạt bên trong, phơi hay sấy khô dùng dần.
Sa nhân thuộc loại cây thân thảo cao 2 - 3m, nhìn gần giống như cây riềng nhưng rễ không phát triển thành củ mà bò lan dưới lớp đất mỏng, có khi nổi lên trên mặt đất. Lá mọc so le có bẹ dài, phiến lá hình trái xoan, mặt lá xanh thẫm, láng bóng. Hoa màu trắng, đốm tía, mọc thành chùm. Quả cuống ngắn có gai, hình tròn hoặc trứng dài có 3 ô mang 3 khối hạt màu nâu sẫm, mùi thơm nồng. Sa nhân có nhiều loại, Đông y thường sử dụng chủ yếu là hai loài sa nhân tím và sa nhân trắng vì có giá trị dược liệu cao.
Theo y học cổ truyền, sa nhân có vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng hành khí, hóa thấp, kiện tỳ, kháng khuẩn, kích thích tiêu hóa. Thường dùng chữa ăn không tiêu, đau bụng, đầy trướng, tiêu chảy, nôn mửa, an thai,...
Một số đơn thuốc thường dùng:
 Bụng đầy trướng, ăn không tiêu, đại tiện khó: Sa nhân 6g, cháy cơm 150g, thần khúc12g, sơn tra 12g, hạt sen 12g, kê nội kim 3g, gạo tẻ 300g, các vị sao thơm tán mịn cho thêm đường uống 12g, uống 2 - 3 lần/ngày.

Chữa tiêu chảy (bụng sôi, lạnh, chướng đau bụng ở vùng hạ vị, phân sống, kém ăn, chậm tiêu, tay chân lạnh): Sa nhân, nhục quế, can khương, vỏ rụt, vỏ quýt mỗi vị 8g; bố chính sâm, tục đoạn, củ mài sao, phá cố chỉ mỗi vị 12g. Tất cả tán bột, mỗi ngày uống 20g.
Thai nghén hay nôn: Sa nhân (sao qua, nghiền mịn) 3g; gạo tẻ 30g nấu cháo, khi cháo chín cho bột sa nhân vào trộn đều, đun nhỏ lửa thêm một lúc nữa là được. Ăn nóng vào lúc sáng sớm và buổi tối trước khi ngủ.
Hoặc: Sa nhân 3g, cá diếc 1 con, gừng tươi, hành và gia vị vừa đủ. Cá diếc đánh vảy, bỏ ruột và mang, rửa sạch, cho sa nhân vào trong bụng rồi kho nhừ, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Lý khí ôn vị, tiêu thũng cầm nôn. Dùng cho thai phụ nôn mửa, tinh thần mỏi mệt, tay chân rã rời, có thể có phù nhẹ hai chi dưới.
Giảm đau nhức răng do sâu răng: Ngậm sa nhân hoặc tán bột chấm vào răng đau.
Hỗ trợ viêm loét dạ dày mạn tính: Sa nhân 6g; dạ dày lợn 1 cái, dạ dày rửa sạch, thái chỉ, cùng với sa nhân nấu thành món canh; ăn dạ dày và uống nước canh. Dùng 10 ngày một liệu trình.
 Hỗ trợ viêm đại tràng mạn tính: Sa nhân 1g (tán bột), mộc hương 1g (tán bột), bột sắn dây 30g, đường cát lượng vừa đủ. Sa nhân, mộc hương, sắn dây thêm nước quấy đều, cho thêm đường nấu cháo ăn. Ngày ăn 2 lần.

Chú ý: Người âm hư nội nhiệt không nên dùng.

9 mẹo chữa hôi miệng thần tốc


Làm thế nào để hơi thở luôn thơm tho, the mát, kiểm soát mùi hôi nhanh chóng? Dưới đây là những bài thuốc sẵn có trong căn bếp nhà bạn.
Nước
Nước rất cần thiết để giữ cho hơi thở của bạn được thơm mát. Sau khi ăn, bạn phải súc nước trong miệng trong vài giây. Cách này sẽ làm bong các thức ăn bị mắc kẹt bên trong răng và làm sạch miệng. Miệng sạch thì vì khuẩn sẽ ít phát triển hơn.

Nước cũng đóng vai trò như một thứ nước súc miệng và vì vậy bạn phải uống một hoặc hai ly nước giữa các bữa ăn để kích thích sản xuất nước bọt.
Dầu cây tràm trà
 Dầu cây trà có tính chất sát trùng. Nó hoạt động như một chất khử trùng mạnh mẽ. Bạn có thể sử dụng kem đánh răng có chứa dầu cây trà. Hoặc nhỏ một vài giọt dầu cây trà trên bàn chải đánh răng cùng với kem đánh răng hàng ngày của bạn.
Bạn thậm chí có thể lấy dầu cây trà, tinh dầu bạc hà và tinh dầu chanh với số lượng bằng nhau và trộn với một ly nước và sử dụng như nước súc miệng.
Thì là
Thì là là một loại thảo mộc được sử dụng rất phổ biến trong nấu ăn. Bạn hoàn toàn có thể sử dụng loại cây gia vị này để loại bỏ hơi thở khó chịu. Lấy một thìa thì là và từ từ nhai. Thì là có đặc tính kháng khuẩn có thể ngăn chặn hơi thở có mùi.
Ngay việc nhai hạt cây thì là trộn với hạt của các hương liệu khác như đinh hương và bạch đậu khấu sau khi ăn những thực phẩm có mùi cũng có thể giúp đỡ rất nhiều trong việc kiểm soát hơi thở khó chịu.
Mùi tây
Rau mùi tây có chứa chất diệp lục thực sự có thể giúp kiểm soát mùi hôi của miệng. Bạn có thể lấy lá rau mùi tây tươi và nhúng nó trong giấm. Hãy nhai kỹ lá này trong một hoặc hai phút. Hoặc bạn có thể ép lá mùi tây và bạn có thể nhâm nhi loại nước ép này bất cứ lúc nào bạn muốn hơi thở của mình trở nên the mát. Lá mùi tây cũng sẽ giúp ích trong việc tiêu hóa vì nó làm giảm việc sản sinh khí đường ruột.
Trà
Uống trà còn có thể kiểm soát hơi thở có mùi. Các hợp chất gọi là polyphenol được tìm thấy trong trà xanh có thể ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gây hôi miệng. Bạn có thể lựa chọn trà bình thường hoặc trà thảo dược với cỏ linh lăng.
Để pha trà thảo dược này, lấy hai muỗng cà phê lá cỏ linh lăng khô vào một cốc nước sôi và ngâm trong khoảng mười lăm phút. Bạn có thể uống trà thảo dược này nhiều lần trong ngày để giữ cho hơi thở của bạn được thơm mát.
Đinh hương
Đinh hương có tính sát trùng mạnh mẽ có thể giúp bạn thoát khỏi mùi hôi ở miệng. Phương pháp dễ nhất để kiểm soát hơi thở có mùi là cho một vài mẩu đinh hương vào miệng và nhai chúng. Cách này sẽ loại trừ mùi hôi chỉ trong một vài phút.
Bạn cũng có thể pha trà đinh hương bằng cách đặt 3 nhánh đinh hương trong hai ly nước nóng và ngâm hai mươi phút, khuấy đều. Bạn có thể uống trà này hoặc sử dụng nó như là một loại nước súc miệng hai lần một ngày.
Giấm táo
Do tính chất axit, giấm táo là một phương thuốc tuyệt vời cho hơi thở có mùi. Lấy một muỗng canh giấm táo pha loãng trong một cốc nước trước khi ăn. Giấm có lợi cho hệ tiêu hóa cũng như chữa bệnh hôi miệng. Cũng hãy uống một muỗng canh giấm táo sau mỗi bữa ăn. Bạn cũng có thể súc miệng với giấm táo hòa với một cốc nước.
Chanh
Chữa hôi miệng với một trái chanh là 1 phương pháp đã có từ rất lâu đời. Tính axit cao trong chanh sẽ ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn trên lưỡi và nướu răng. Trộn một muỗng canh nước cốt chanh với một cốc nước và súc miệng. Bạn thậm chí có thể làm hỗn hợp muối, chanh và nước để súc miệng trước khi đi ngủ. Biện pháp này chắc chắn sẽ chữa hôi miệng cho bạn trong vòng chỉ vài ngày.
Bột nở

Bột nở là giải pháp tuyệt vời để thoát khỏi tình trạng hôi miệng. Hãy sử dụng bột nở để đánh răng. Nó sẽ giúp làm giảm nồng độ axit trong miệng của bạn và sẽ ngăn không cho vi khuẩn phát triển trên lưỡi. Bạn thậm chí có thể súc miệng bằng bột nở hòa tan với nước ấm. Cách này sẽ tiêu diệt vi khuẩn gây mùi hôi trong miệng của bạn. Đây là một trong những cách dễ nhất để xử lý hơi thở có mùi tại gia.

Chữa ho do hen suyễn với cây đinh lăng


Đinh lăng còn được gọi là cây gỏi cá, là loại cây nhỏ thường được trồng làm cây cảnh trước nhà. Cây đinh lăng được mọi người dùng để ăn như rau làm gia vị và chữa nhức đầu.
Nhiều nơi thường lấy lá đinh lăng để nấu canh với thịt, cá để bồi bổ cho sản phụ, người già hoặc người ốm mới dậy. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng.
Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm.
Theo kinh nghiệm, đinh lăng thường dùng để trị ho ra máu, chữa tắc tia sữa, thanh nhiệt, lợi tiểu, chữa mẩn ngứa.
Một số bài thuốc có sử dụng đinh lăng:
Bài 1: Bồi bổ cơ thể thích hợp với người mệt mỏi: Lá đinh lăng tươi từ 150 - 200g, nấu sôi khoảng 200ml nước. Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5 - 7 phút, chắt ra, đổ tiếp thêm khoảng 200ml nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai. Đun sôi trộn hai thứ nước, chia 2 lần uống trong ngày.
Chữa ho do hen suyễn  với cây đinh lăng
Hoặc có thể dùng rễ đinh lăng 10g thêm 300ml nước đun sôi nhỏ lửa còn 150ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
Bài 2: Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng: Lá đinh lăng khô 80g, đổ 500ml nước sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày, dùng liền 10 ngày.
Bài 3: Chữa ho do hen suyễn: Rễ đinh lăng 10g, nghệ vàng, bách bộ, đậu săn, rễ cây dâu, rau tần dày lá mỗi vị 8g, củ xương bồ 6g; gừng khô 4g. Đổ 800ml nước sắc còn 300ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng. Mỗi liệu trình 10 ngày.
Bài 4: Tác dụng tiêu thực: Rễ đinh lăng 10g thêm 300ml nước đun sôi nhỏ lửa còn 150ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
Bài 5: Lợi sữa sau sinh: Rễ đinh lăng 20g, gừng tươi 3 lát, đổ 500 ml nước sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng, dùng liền 5 ngày.
Đinh lăng có tác dụng bồi bổ khí huyết.
Bài 6: Hỗ trợ điều trị phong thấp: Rễ đinh lăng 20g, rễ cỏ xước, thiên niên kiện, cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, mỗi vị 8g; vỏ quít, quế chi 4g (riêng vị quế chi bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc ấm thuốc xuống). Đổ 800ml nước sắc còn 300ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng, dùng liền 10 ngày.
Bài 7: Chữa đau lưng do thay đổi thời tiết: Lá cành đinh lăng 30g, rễ cây xấu hổ, cúc tần và cam thảo dây mỗi vị 15g. Tất cả cho vào ấm đổ 800ml nước sắc còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Lưu ý: Để bài thuốc hiệu quả cần gia giảm các vị cho phù hợp do vậy khi áp dụng cần được các nhà chuyên môn bắt mạch.

7 loại thực phẩm có tiềm năng chữa bệnh


Những loại rau quả trong thiên nhiên đôi khi lại mang đến những lợi ích mà bạn không ngờ tới. Dưới đây là 7 loại rau củ quả có thể chữa bệnh, giảm căng thẳng và cải thiện cuộc sống của bạn.
1. Quả Kiwi
Quả kiwi là một kho dinh dưỡng và rất tốt cho sức khỏe.
Kiwi có lượng vitamin C gấp đôi so với quả cam, nhiều chất xơ hơn so với táo và có lượng kali nhiều hơn so với quả chuối.
Kiwi làm loãng máu tự nhiên, giúp ngăn chặn sự hình thành các cục máu đông và do đó giảm lượng cholesterol trong máu và hạ huyết áp.

Khoa học đã chứng minh quả kiwi có thể chống lại bệnh tim, ung thư, đột quỵ và nhiều loại rối loạn hô hấp.
Kiwi chín mang lại nhiều lợi ích sức khỏe hơn khi còn xanh.
2. Các loại rau xanh
Các loại rau xanh bao gồm cải xoăn, tảo bẹ, rau bina, rau mùi tây, cỏ linh lăng và rau cải ngọt.
Những loại rau xanh rất giàu kali, magiê và canxi, rất có lợi cho tuyến giáp. Mức độ i-ốt thấp trong cơ thể là nguyên nhân tăng cân, mệt mỏi và tâm trạng thất thường. Các loại rau xanh, đặc biệt là tảo bẹ, giúp tăng mức độ i-ốt trong cơ thể và vì thế nó giống như một loại thuốc tự nhiên cho bệnh về tuyến giáp.
3. Quả ổi
Ổi có chứa nhiều lycopene, chất chống oxy hóa, chống ung thư. Đây là loại trái cây nhiệt đới giàu dinh dưỡng và dễ tìm. Ổi rất bổ dưỡng bất kể ăn tươi hoặc nấu chín. Lycopene trong ổi đã được chứng minh có thể làm giảm rủi ro liên quan tới bệnh ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú và các bệnh tim mạch vành.
4. Quả anh đào
Anh đào là một thực phẩm giàu dinh dưỡng nhưng lại có lượng calo tương đối thấp vì thế có thể ngăn ngừa bệnh béo phì. Quercetin và acid ellagic trong quả anh đào giúp ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào khối u và ung thư. Anthocyanin trong anh đào làm giảm nồng độ acid uric trong máu và do đó giảm bớt rủi ro liên quan với bệnh gout và ung thư ruột. Thường xuyên ăn loại quả này sẽ giảm nguy cơ đột quỵ và bệnh tim.
5. Các loại đậu
Đậu là một kho chứa protein, chất xơ và chất chống oxy hóa. Những chất này giúp điều chỉnh lượng đường trong máu và lượng cholesterol. Giúp hệ thống tiêu hóa hoạt động tốt và ngăn ngừa các loại ung thư như ung thư ruột và ung thư vú.
6. Củ gừng
Củ gừng là một loại gia vị rất tốt và nên được thường xuyên tiêu thụ để cải thiện sức khỏe. Gừng đã được chứng minh để ngăn ngừa các rối loạn dạ dày và các bệnh về viêm khớp. Gừng có tác dụng cải thiện triệu chứng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật. Gừng còn tươi sẽ có tác dụng tốt nhất.
7. Cà rốt

Khi nghĩ về cà rốt, bạn sẽ nghĩ ngay đến những lợi ích cho sức khỏe đôi mắt. Nhưng lợi ích của cà rốt còn nhiều hơn thế. Cà rốt có nhiều ở carotenoid làm giảm nguy cơ ung thư vú, bàng quang, cổ tử cung, đại tràng, thực quản, tuyến tiền liệt, phổi và thanh quản. Cà rốt giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, kích thích hoạt động đại tràng, ngăn ngừa bệnh tim mạch, và hạn chế tăng trưởng của khối u.

Rau quả tốt cho người viêm phổi


Ngoài những món ăn dùng trong bữa chính, bệnh nhân viêm phổi nên tăng cường bổ sung món chế biến từ rau, củ, quả để tăng cường miễn dịch, chống lại tác nhân gây bệnh.
Món ăn, thức uống nên dùng ở giai đoạn khởi phát từ 1 đến 2 ngày với triệu chứng thường gặp là sốt, sợ lạnh, ra ít mồ hôi hoặc không ra mồ hôi, nhức đầu, ho, đàm ít, miệng khô khát, hơi thở ngắn, gấp, ngực đau, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi đỏ.
Nước sinh tố khế
Khế xắt miếng 50 g. Nước cốt chanh 1,5 muỗng cà phê. Đường cát trắng 1 muỗng canh. Muối một ít. Nước sôi để nguội nửa  ly.
Cho tất cả vào máy sinh tố đánh nhuyễn. Dùng uống giải khát, giải nhiệt, hạ sốt, long đàm giảm ho.
Húng chanh chưng đường phèn
Lá húng chanh tươi 20 g rửa sạch, xắt nhỏ. Đường phèn (hoặc mật ong) 20 g. Cho hai thứ vào tô sành hoặc tô thủy tinh, đem chưng cách thuỷ. Chắt lấy nước để uống. Uống từ từ từng ngụm nhỏ, bã ngậm trong miệng, mút lấy nước.

Mỗi ngày uống một thang, liên tục trong 3-5 ngày.
Chanh hấp đường phèn
Chanh 2 quả, đường phèn (hoặc mật ong) 50 g.
Chanh rửa sạch, xắt vụn, cho vào tô sành hoặc tô thủy tinh, cùng với đường phèn, đem hấp cách thủy. Dùng ăn từng chút một.
Cũng có thể lấy vài quả chanh, rửa thật sạch, xắt láy mỏng, để cả vỏ và hột, trộn với đường phèn, hấp cơm. Dùng ăn trước bữa ăn trong vài ngày liền. Một ngày ăn hai lần càng tốt.
Hoặc dùng: Chanh 2 trái, rửa sạch bóc vỏ, bỏ hạt, xắt lát mỏng, ướp với muối khoảng 12 tiếng. Dùng ăn hay ngậm nuốt nước.
Chanh hấp nghệ
Chanh tươi một quả, nghệ tươi 20 g, đường cát 5 g, muối ăn 2 g.
Nghệ giã nhỏ, trộn với muối, đường, chanh trong tô sành hoặc tô thủy tinh, đem hấp cơm. Dùng ăn trước bữa ăn, mỗi ngày ăn một lần.
Hành tươi nấu lê
Hành tươi 7 cây (cả lá và rễ), lê 1 quả, đường trắng 50 g.
Hành rửa sạch, xắt nhỏ, lê gọt vỏ, xắt lát. Hai thứ cho vào nồi, nấu với 500 ml nước, sôi khoảng 5 phút, rồi cho đường vào hòa đều.
Dùng uống nước thuốc, ăn hành và lê, ngày 2-3 lần.
Trà hoa mướp, mật ong
Hoa mướp 12 g rửa sạch, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, pha thêm 30 g mật ong.
 Dùng uống thay trà trong ngày, mỗi ngày pha để dùng 2 thang.
Trà xương sông, lá dâu
Lá xương sông, lá dâu, bạc hà, mỗi thứ đều 20 g. Tất cả rửa sạch, nấu nước để uống ấm (cách 30 phút uống 1 lần).
Lá xương sông, lá hẹ hấp mật ong
Lá xương sông 6 g, lá hẹ 6g, mật ong 50g, đường trắng 20g. Hai thứ rửa sạch, xắt nhỏ, cho vào chén sành cùng với đường trắng, mật ong. Đem hấp vào nồi cơm, khi chín mang ra để nguội, lấy nước thuốc để uống, chia 4-5 lần trong ngày.
Nước ép rau hỗn hợp
Rau cần tây 50 g, rau diếp quắn 100 g, bắp cải 100 g. Ba thứ rửa sạch, xắt nhỏ. Ớt tây 1 trái xắt nhỏ. Chuối chín 1 trái (chuối xiêm hay chuối già đều được) xắt nhỏ.
 Cho tất cả vào máy xay, ép lấy nước chia 2-3 lần uống trong ngày lúc đói bụng.
Nước cà chua - rau cần tây
Cà chua 1 trái, rau cần tây 100 g, nước chanh vắt 1 muỗng, nước sôi để nguội 100 ml.
Cà chua rửa sạch, cắt miếng nhỏ. Rau cần tây rửa sạch, cắt từng đoạn ngắn. Cho cà chua, rau cần tây vào máy xay sinh tố cùng với nước để xay nhuyễn. Sau khi xay, thêm nước chanh vắt để uống (những trường hợp không bị tiểu đường có thể thêm ít đường hoặc mật ong cho dễ uống).
 Trà rau cần, táo đỏ
Trà 3 g, rau cần tây 150 g, táo đỏ 2 trái.
Rau cần tây rửa sạch cắt nhỏ, táo đỏ rửa sạch bỏ hột. Cho tất cả vào nồi nấu với 1 lít nước, sắc còn 750 ml, uống thay nước trà trong ngày.
Món ăn, thức uống nên dùng ở giai đoạn toàn phát với các triệu chứng như sốt cao, không ra mồ hôi, ho ra đờm vàng, hoặc có dính máu, miệng khô khát, khó thở, cánh mũi phập phồng, đau ngực nhiều hơn, rêu lưỡi vàng khô, chất lưỡi hồng.
Trà kim ngân hoa, mật ong
Kim ngân hoa 30 g rửa sạch, nấu với 500 ml nước trong 15 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, hòa thêm 50 g mật ong. Chia uống 2-3 lần trong ngày.
Trà bách hợp, mật ong
Bách hợp 30 g rửa sạch, tách múi. Mật ong 50 g. Hai thứ trộn đều rồi đem hấp cách thủy. Chia ăn 2 lần trong ngày. Dùng 7 ngày là một liệu trình.
Trà tam hoa
 Hoa khế 15 g, hoa đu đủ đực 15 g, hoa kim ngân 12 g, đường phèn (hoặc mật ong) 15 g. Hoa khế, hoa đu đủ, hoa kim ngân rửa sạch, cùng với đường phèn cho vào tô sành có ít  nước lọc, đặt trong nồi có nước, đậy nắp kín, chưng cách thuỷ, để sôi nho nhỏ, càng lâu càng tốt. Chia uống 2 lần trong ngày.
Với trẻ nhỏ, cho uống thấm dần dần ở đầu lưỡi, từ ít đến nhiều (1/2 thìa cà phê). Khi cho trẻ uống, nâng đầu trẻ hơi cao so với bụng, để tránh sặc, trớ, nôn. Dùng bàn tay vuốt nhẹ từ mỏm ức xuống rốn của trẻ.
Nước thơm (dứa), lê
Thơm nửa trái, lê 1 trái, đường cát hoặc mật ong vừa đủ, 1 ít muối, nước lọc.
Thơm gọt bỏ vỏ và mắt, lê gọt vỏ, hai thứ xắt hạt lựu, thêm nước vào xay nhuyễn rồi thêm đường hoặc mật ong vào khuấy đều, thêm ít muối.

Tác dụng làm êm dịu thần kinh, thanh nhiệt, nhuận phế, trừ ho đàm, giúp cơ thể chống được thử nhiệt của mùa hè, bổ sung nước và muối khoáng, sinh tố cho cơ thể, bảo vệ làn da luôn được mát mẻ.

Tỏi cũ mọc mầm – Đừng vứt!


Những nhánh tỏi cũ đã mọc mầm xanh - vốn thường bị xem là đã hỏng và bị vứt vào thùng rác, hóa ra lại có hoạt tính chống ô xi hóa tốt hơn cả tỏi tươi non.
Tỏi là loại gia vị được sử dụng phổ biến cho mục đích chữa bệnh từ hàng nghìn năm nay. Hiện nay, con người vẫn rất hoan nghênh những lợi ích đối với sức khỏe của loại gia vị này.
Ăn tỏi hoặc dùng chế phẩm bổ dung từ tỏi là một cách tự nhiên để giảm cholesterol, huyết áp và nguy cơ bệnh tim. Tuy nhiên những lợi ích này thường được nghiên cứu trên tỏi tươi, sống. Tỏi đã mọc mầm ít được chú ý hơn nhiều.


Các nghiên cứu khác cũng đã thấy rằng đậu xanh và ngũ cốc nảy mầm có hoạt tính chống ô xi hóa cao hơn, vì thế nhóm nghiên cứu quyết định tìm hiểu xem liệu điều này có đúng với tỏi hay không.
Kết quả cho thấy những củ tỏi đã mọc mầm 5 ngày có hoạt tính chống ô xi hóa tốt cho tim cao hơn tỏi tươi và cũng có chuyển hóa khác hơn, cho thấy nó còn tạo ra những chất khác nữa. Chất chiết từ loại tỏi này thậm chí còn bảo vệ được các tế bào trong ống nghiệm tránh khỏi một số loại tổn thương.
Khi nảy mầm, cây cối thường tạo ra nhiều hợp chất mới, bao gồm những chất sẽ bảo vệ cây non chống lại tác nhân gây bệnh. Nhóm nghiên cứu lý giải rằng điều này có lẽ cũng xảy ra khi mầm xanh nhú lên từ những nhánh tỏi cũ.
Do đó, để mọc mầm có thể là cách hữu dụng để cải thiện khả năng chống ô xi hóa của tỏi.

Nghiên cứu đăng trên tạp chí ACS' Journal of Agricultural and Food Chemistry

Nguy cơ bệnh tiểu đường từ thịt


Ăn quá nhiều protein động vật như cá, thịt đỏ và thậm chí cả các sản phẩm sữa, đều có thể dẫn đến tăng nguy cơ bị bệnh tiểu đường.
Trong một nghiên cứu trước đây đăng trên tờ Cell Metabolism, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng những người ở độ tuổi 50 có chế độ ăn nhiều protein dễ tử vong do mọi nguyên nhân gấp đôi so với những người ăn ít protein hơn.
Còn trong một nghiên cứu mới đây do Hội Bệnh tiểu đường Mỹ công bố, các nhà khoa học đã tổng kết số liệu về thói quen ăn uống và hoạt động thể lực của người lớn ở 8 nước châu Âu trong thời gian 12 năm. Những người này được đánh giá về chiều cao, cân nặng, vòng bụng cũng như sự phát triển bệnh tiểu đường. Trong số các đối tượng nghiên cứu có 11.000 người bị tiểu đường týp 2 và 15.000 người không bị bệnh.
Trung bình, những người tham gia nghiên cứu ăn khoảng 90g protein mỗi ngày. Họ được chia thành 5 nhóm dựa trên mức tiêu thụ protein. Kết quả cho thấy những người ăn nhiều nhất (111g mỗi ngày) dễ bị bệnh tiểu đường hơn 17% so với những người ăn ít nhất (72g/ngày). Theo Trung tâm Phòng chống Bệnh (CDC) Mỹ, khẩu phần protein khuyến nghị là khoảng 46g đối với phụ nữ từ 14 tuổi trở lên và 56g đối với nam giới từ 19 tuổi trở lên. Điều này có nghĩa là những người dễ bị bệnh tiểu đường có lẽ đã ăn gấp đôi lượng đạm mà họ nên ăn.

 Các nhà nghiên cứu kết luận rằng mỗi 10g protein ăn thêm sẽ liên quan với tăng thêm 6% nguy cơ bị bệnh tiểu đường. Quan trọng hơn, lượng đạm động vật cao thường đi kèm với những chất dinh dưỡng không mong muốn khác như chất béo no, cholesterol và muối.
Thực ra, đạm động vật như thịt chế biến sẵn, gia cầm, thịt đỏ, cá và sữa - có thể chứa những thành phần không tốt cho sức khỏe mà ta chỉ nên ăn với lượng vừa phải. Ví dụ, một miếng bít tết cho lượng protein lớn, nhưng nó cũng cung cấp tới 12g chất béo no. Một miếng thịt bò xông khói khoảng 170g cũng chứa rất nhiều muối. Vì vậy khi nói về “gói protein” thì không chỉ là về lượng protein mà món ăn mang đến cho bạn. Cá hồi và đậu phụ giàu protein nhưng ít muối cũng như chất béo no; đậu đỗ giàu protein kèm với chất xơ, và không chứa chất béo no là những thực phẩm cung cấp “gói protein” tốt hơn.
Cũng vậy, trước khi loại bỏ hoàn toàn protein động vật ra khỏi chế độ ăn, cần biết rằng nghiên cứu không hoàn toàn chính xác. Đáng lẽ phải cho người tham gia ăn lượng protein khác nhau và sau đó kiểm tra họ, thì các nhà nghiên cứu chỉ so sánh chế độ ăn của những người bị tiểu đường với những người không bị. Tỷ lệ bệnh tiểu đường tăng ở những người ăn nhiều protein cũng có thể chỉ là dấu hiệu cho thấy những người này nói chung là ăn nhiều hơn - bao gồm cả protein, đường và chất béo.
Tuy nhiên, bạn cũng đừng “tẩy chay” thịt cá một cách cực đoan. Protein rất quan trọng đối với hoạt động của cơ thể, và thịt động vật là nguồn đạm dồi dào nhất. Nguyên tắc chung là có lẽ không nên ăn thịt đỏ quá 2 lần/tuần, thịt gia cầm và cá quá 3-4 lần/tuần và không nên ngày nào cũng uống sữa gầy hoặc sữa chua.
 “Đại đa số người Mỹ ăn nhiều gấp đôi lượng protein mà họ nên ăn, và có lẽ tốt hơn là nên giảm lượng đạm ăn vào hàng ngày, nhất là đạm có nguồn gốc từ động vật. Nhưng cũng đừng cực đoan trong việc cắt giảm protein – bạn có thể rất nhanh chóng bị chuyển từ “được bảo vệ” sang suy dinh dưỡng”.

Hãy nhớ là protein cũng có trong các thực phẩm không phải từ động vật, như đỗ, đậu phụ, hạt có vỏ cứng và các loại hạt - vì thế hãy chú trọng những nguồn này hơn để nhận được 46-56g protein mỗi ngày.

Các bệnh răng miệng phổ biến ở trẻ


Dưới 6 tháng tuổi, bệnh răng miệng chủ yếu ở trẻ là nanh, tưa miệng. Ngoài 6 tháng tới 3 tuổi, trẻ có thể vị viêm loét miệng, viêm lợi cấp hay viêm lưỡi bản đồ mãn tính.
 Răng đóng vai trò quan trọng trong chức năng nhai, học nói, tạo nên sự phát triển của cấu trúc mặt và duy trì khoảng cách cần thiết trên cung răng cho răng vĩnh viễn mọc sau này không bị thiếu chỗ. Dưới đây là kiến thức cha mẹ cần biết về những bệnh răng miệng phổ biến ở trẻ nhỏ do bác sĩ Nguyễn Nguyệt Nhã, khoa Tai mũi họng - Mắt - Răng hàm mặt, Bệnh viện Nhi trung ương chia sẻ:


Giai đoạn từ lúc mới sinh tới 6 tháng tuổi
1. Nanh
Đây là trường hợp thường gặp ở 75% trẻ sơ sinh, không phân biệt giới tính.
Biểu hiện lâm sàng:
- Là những nang nhỏ kích thước 1-3 mm, màu trắng, nằm rời rạc hay thành đám trên niêm mạc khẩu cái hay niêm mạc xương hàm. Trẻ mọc nanh có thể không gây ảnh hưởng gì hoặc cũng có thể gây biếng ăn và bỏ bú.
Xử trí:
- Nếu không ảnh hưởng gì tới ăn uống tự nanh sẽ rụng.
- Nếu ảnh hưởng tới ăn uống như biếng ăn, bỏ bú thì phải đến các bác sĩ răng hàm mặt để chích nanh.
2. Tưa miệng
Triệu chứng:
- Có những mảng trắng như sữa bám vào niêm mạc miệng.
- Mảng trắng có thể đông đặc toàn bộ niêm mạc miệng và hàm họng.
- Khi đánh đi lớp nấm dày để lại lớp niêm mạc phía dưới chảy máu.
Xử trí: Dùng thuốc kháng nấm Nystattin, mật ong hay glyxerin borat đánh sạch nấm ngày 3-4 lần.
Giai đoạn từ 6 tháng tới 3 tuổi
1. Thời kỳ mọc răng sữa ở trẻ.
Trong giai đoạn này, trẻ cần được bổ sung canxi vì đây là thời kỳ bắt đầu có sự biến động trên xương hàm do mọc răng.
Sơ lược thời gian mọc răng sữa của trẻ: Thời kỳ này trẻ mọc đủ 20 răng sữa.
Hàm trên:
- 2 răng cửa giữa: 7 tháng.
- 2 răng cửa bên: 9 tháng.
- 2 răng nanh: 18 tháng.
- 2 răng cối nhỏ: 14 tháng.
- 2 răng cối lớn: 24 tháng.
Hàm dưới:
- 2 răng cửa giữa: 6 tháng.
- 2 răng cửa bên: 7 tháng.
- 2 răng nanh: 16 tháng.
- 2 răng cối nhỏ: 12 tháng.
- 2 răng cối lớn: 20 tháng.
2. Viêm loét miệng
Biểu hiện lâm sàng:
- Bệnh thường xuất hiện sau khi trẻ sốt do bệnh toàn thân như: sởi, thuỷ đậu, sau sốt mọc răng sữa, trẻ vệ sinh răng miệng kém.
- Các nốt loét to nhỏ, có giả mạc trắng hay vàng, động vào dễ chảy máu.
- Trẻ bỏ ăn vì đau miệng.
Xử trí:
- Vệ sinh răng miệng hằng ngày sau khi ăn.
- Cho kháng sinh toàn thân kết hợp.
- Cho thuốc giảm đau.
- Bôi thuốc chữa viêm loét.
3. Viêm lợi cấp
Thường gặp ở trẻ 6 tháng đến 3-4 tuổi, xuất hiện sau sốt mọc răng.
Biểu hiện lâm sàng:
- Trẻ sốt, quấy khóc, bỏ bú, bỏ ăn do lợi đau và viêm tấy, chảy máu lợi, hơi thở hôi.
- Tại chỗ: Các viền và núm lợi gây viêm tấy đỏ, không bám mềm mại vào cổ răng, động vào dễ chảy máu.
Xử trí:
- Không dùng bột lá cây, dễ gây nhiễm trùng huyết (vì lợi đang viêm cấp).
- Đưa tới bác sĩ răng hàm mặt để được điều trị và hướng dẫn chăm sóc.
4. Viêm lưỡi bản đồ mãn tính
Nguyên nhân: Bệnh thường thấy ở trẻ nhỏ. Nguyên nhân có thể do thiếu vitamin B, do dị ứng, di truyền, do có sự xáo trộn của chu kỳ thay thế tế bào lưỡi.
Biểu hiện lâm sàng: Trên mặt lưỡi có vùng trơn láng màu đỏ, viền trắng (trên đó là vùng gai lưỡi mất gai). Các mảng loang này thay đổi từ vùng này sang vùng khác. Có thời gian tự mất sau lại xuất hiện.
Xử trí: Chủ yếu vệ sinh răng miệng tốt. Trường hợp viêm loét lưỡi có thể dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ tai mũi họng.
5. Sâu răng, viêm tủy răng và abse răng
Nguyên nhân: Do sâu răng không được chữa trị kịp thời dẫn đến biến chứng gây viêm tủy răng.
Biểu hiện lâm sàng:
- Sâu men: Men bị axit phá hủy. Răng ê buốt nhẹ thoáng qua. Xử trí: Đánh răng thuốc có fluor.
- Sâu ngà: Axit phá hủy xuống ngà răng. Trẻ bị ê buốt nhiều khi uống nước nóng lạnh hay khi ăn nhai. Xử trí: Phải đi hàn răng.
- Viêm tủy: Sâu răng nặng đã lan tới tủy răng. Đau nhức từng cơn tự nhiên kể cả khi không nhai, đau nhiều từng cơn về đêm. Xử trí: Chữa tủy răng.
- Viêm cuống răng - abse lợi vùng răng tương ứng. Đau nhức tự nhiên, liên tục có sưng tấy mủ vùng lợi răng hay sưng tấy mặt bên răng đau.
Xử trí:
- Răng sữa: Với trẻ dưới 6 tháng tuổi sưng tấy lần đầu có thể điều trị kháng sinh và bảo tồn răng. Với trẻ trên 6 tháng tuổi sưng tấy nhiều lần thì phải nhổ răng.
 - Răng vĩnh viễn: Cố gắng chữa răng bảo tồn.
Giai đoạn 6-12 tuổi
1. Viêm lợi
Biểu hiện lâm sàng:
- Hơi thở hôi.
- Lợi chảy máu khi đánh răng.
- Lợi mềm, sưng đỏ, căng bóng.
- Có mảng bám vào răng xốp, mảng bám vào cổ răng.
- Ấn tay: Có mủ chảy ra quanh răng, răng lung lay, lợi phập phồng không bám sát cổ răng.
Xử trí:
- Vệ sinh răng miệng sáng tối.
- Lấy sạch cao răng.
- Dùng thuốc điều trị viêm lợi.
- Dùng kháng sinh chống nhiễm trùng (theo chỉ định của bác sĩ răng hàm mặt).
2. Thiểu sản men răng
Biểu hiện lâm sàng: Răng mất men, gồ ghề, màu vàng xám, dễ mủn nát và gãy răng.
Xử trí:
- Hàn răng nếu thiểu sản men trên thân răng để lại hố sâu.
- Cho bổ sung canxi (theo chỉ định của bác sĩ tai mũi họng).
3. Răng mọc lệch lạc
Nguyên nhân:
- Do cung hàm quá hẹp.
- Răng vĩnh viễn mọc thiếu chỗ.
- Do nhổ răng sữa sớm dẫn đến xô lệch răng.
Xử trí:
- Nhổ răng sữa.
- Chỉnh nha thẩm mỹ (theo chỉ định của bác sĩ tai mũi họng).
Cách chăm sóc và dự phòng các bệnh răng miệng cho trẻ:
- Đánh răng thường xuyên: 2 lần/ngày từ lúc trẻ 3 tuổi.
- Dùng kem đánh răng có flour.
- Khám răng định kỳ 6 tháng/lần.

- Ăn uống đủ chất: Đặc biệt là bổ sung canxi (theo chỉ định của bác sĩ răng hàm mặt) đảm bảo sự hình thành và phát triển của răng.